Chuyện Hà Nội

Những nét văn hóa xưa của người Hà Nội. Đây là blog lưu trữ những tinh hoa văn hóa đậm chất người Hà Nội

LightBlog
Responsive Ads Here

Thứ Hai, 2 tháng 7, 2018

Không phải ngẫu nhiên mà khi nhắc đến Hà Nội, người xa quê lại nghĩ ngay đến hình ảnh những cụ già tập thể dục bên Hồ Gươm buổi sáng, bởi đây là những hình ảnh quen thuộc gắn liền với Hà Nội khiến cho người ta nhớ đến mỗi khi nghĩ về.


Hà Nội giờ không còn tĩnh lặng, yên bình như xưa, nhiều khi nhắc đến nơi đây, người ta lại thấy ngán ngẩm với cảnh bụi đường, kẹt xe, ồn ào… Nhưng đâu đó giữa một thủ đô vội vã, náo nhiệt vẫn còn có những hình ảnh mộc mạc, giản dị mà gần gũi. Người ta tìm thấy một Hà Nội bình yên trên những gánh hàng rong của các cô bán hàng, trong bước chân thoăn thoắt của những gánh xôi sáng hay trong hình ảnh những người đi tập thể dục buổi sáng khi mặt trời vẫn chưa kịp ló dạng.


Người Hà Nội có thói quen dậy sớm đi thể dục, dù mùa đông hay mùa hè, dù trời nắng hay mưa. Có những hôm Hà Nội rét đăm đăm kèm theo mưa phùn, những tay săn ảnh vẫn “chộp” được khoảnh khắc người tập thể dục co ro, vừa đi vừa xuýt xoa vì lạnh.
Có người tập một mình, có người tập thể dục bằng cách đạp xe đạp, có người lại đi cùng bạn bè người thân, hay thú vị hơn họ tập hợp lại với nhau để tập luyện những bài thể dục bài bản. Những cô gái trẻ hay những cô trung niên thường tập những bài tập aerobic để giữ gìn vóc dáng.


Những cụ già lớn tuổi lại có những bài tập nhẹ nhàng hơn để nâng cao sức khỏe hay những chàng trai khỏe mạnh nhễ nhại mồ hôi thi nhau chạy bộ, đánh cầu lông.
Những người đi một mình không tham gia các câu lạc bộ thể dục thì cũng tranh thủ vừa tản bộ vừa “vung tay vung chân” như để đánh thức cơ thể bắt đầu một ngày mới...
Tôi đã giần giận người bạn phương Nam sau mấy ngày thăm Thủ đô và kết luận đất Hà Nội của tôi “chẳng có gì”. Đó không phải người duy nhất nghĩ về Hà Nội như thế. Hà Nội ồn ã. Hà Nội tắc đường. Hà Nội khói xe… Nhưng với tôi, Hà Nội sinh ra không phải để ngắm. Hà Nội của tôi là cô gái duyên thầm.
Một cái ào qua vội vã làm sao cảm được lẩn khuất đâu đó nét rêu phong, làm sao có thể cảm được thời gian đọng lại trong nét khắc của người thợ làm dấu gỗ, trong chiếc lá bồ tát ngát những hương hoa của bà cụ già bán để dâng cúng tổ tiên? Và khi những cơn gió đã trở hanh hao, và khi những sợi nắng cứ mỏng dần đi như tơ như tóc, nét duyên của cô gái ấy thêm đằm thắm.



Tôi ưa đứng từ phố Hàng Chiếu mà nhìn ra cửa Ô Quan Chưởng những sớm mai. Hàng rong của những người sống ở ngoài đê thường vào phố qua nẻo ấy. Màu nắng sớm khẽ vàng in dáng xiêu xiêu của những cô, những chị hàng rong trên bức tường đượm màu xưa cũ. Gánh nặng mưu sinh mà vẫn chở cả chất thơ. Hàng hoa, hàng quà đủ cả. Mùa này, không mấy ai không mong những cốm, những hồng. Mùa sen đã úa tàn.
Nhưng cây sen vẫn làm nốt nhiệm vụ cuối cùng. Cốm sẽ chẳng thu, nếu không được ướp trong mùi hương của những lá sen già. Những tinh túy của đồng quê được gói cả trong gói cốm xinh xinh, từ cái đượm hương của cọng rơm nếp, đến màu cốm non xanh như ngọc... Gánh hàng rong giờ thay bằng chiếc xe đạp, thường là cà tàng. Dẫu vậy, cái hương vị và sắc màu vẫn chung thủy như quá khứ trăm năm.



Trên tấm bản đồ Hà Nội hơn 3.300 km2, phổ cổ - phố cũ giờ chỉ như một cái chấm nhỏ. Ấy vậy mà, cái chấm ấy vẫn cứ là đại diện của Hà Nội, dù đã bao biến thiên vận đổi sao dời. Người ta bảo phố cổ dày đặc di tích. Tôi không tin vào những thống kê. Nhiều lần tôi đã làm thí nghiệm xem nó dày đến độ nào. Đứng từ một điểm bất kỳ, rồi đi về một hướng bất kỳ, quá lắm là cỡ hai trăm mét, đã gặp nếu không phải một ngôi đình, thì là một ngôi chùa, ngôi miếu. Một trong những nơi tôi từng làm thí nghiệm là phố Nhà Thờ. Đứng từ trước cửa Nhà thờ Lớn, đi ngược ra phía hồ Hoàn Kiếm, mấy chục bước chân, là gặp chùa Bà Đá, ngôi chùa dựng từ thời Lê, trên nền của tháp Báo Thiên lừng danh thời Lý.

Dấn thêm mấy bước nữa, gặp phố Hàng Trống. Rẽ trái một quãng, ta gặp dấu tích còn sót lại của đình Đông Hương. Nếu rẽ phải, mặt sau của Khu Di tích Vua Lê đã ngay trước mắt… Hà Nội là như thế. Cứ ngồi trên xe máy, hoặc giả là xe điện của tua du lịch đi nữa, làm sao có thể thẩm thấu được điều này? Và nếu thả bước qua khu vực này một sớm mai, hay trong một buổi đêm yên tĩnh, ta sẽ có dịp được nghe tiếng bính bong chuông chùa hòa trong tiếng leng keng chuông nhà thờ, có thể lắm, là cả tiếng hát văn từ những ngôi đình, đền vọng lại. Một sự dung hòa đến tài tình khi những tôn giáo thế giới và tín ngưỡng bản địa quần tụ bên nhau trong một góc phố. Cũng đừng quên, Hà Nội còn có một thánh đường Hồi giáo trên phố Hàng Lược, mà quanh nó, cơ man nào là những đình chùa.



Phố cổ - phố chưa bao giờ chịu thôi khiến người ta bất ngờ. Nhiếp ảnh gia Nguyễn Hữu Bảo, người nổi tiếng về những bức ảnh kiến trúc, cuộc sống Hà Nội bảo rằng, sẽ thật nhàm chán nếu những ngôi nhà phố cổ cứ đều chặn chặn một khuôn. Những con phố còn nhiều nhà cổ, nhà cũ, bên một ngôi nhà dáng dấp Á đông, có thể lắm là một ngôi nhà theo kiến trúc Pháp. Cạnh đó, lại là một kiến trúc giao lưu Pháp – Việt. Đông – Tây nằm cạnh nhau. Đông – Tây kết hợp. Thế mà chúng không “cãi nhau” mới lạ. Nếu tìm đến những nét giao lưu văn hóa Đông – Tây, rõ nhất là những kiến trúc, những biệt thự ở khu phố cũ. Người ta sẽ sớm bị mê hoặc với những họa tiết trang trí phương Đông trên những công trình kiến trúc Pháp.



Hà Nội còn có những phố làng. Những vùng đất ven kinh thành xưa Kẻ Mơ, Kẻ Mọc, Kẻ Bưởi… Lãng mạn hơn cả, phải kể đến vùng Hồ Tây. Xưa, “Tây Hồ bát cảnh” làm nao lòng thi nhân mặc khách. Người ta bảo, ngày trước, khi cuối thu đầu đông, đứng từ đê Cố Ngự (đường Thanh Niên ngày nay), khi bàng sắp mùa rụng lá, rừng bàng Yên Thái sẽ rực đỏ ánh mặt trời lúc hoàng hôn. Cũng khi bắt đầu trở rét, sâm cầm sẽ về rợp trời. Chẳng còn những bến trúc Nghi Tàm, rừng bàng Yên Thái, sâm cầm Hồ Tây, hay chợ đêm Khán Xuân… Nhưng vẫn còn đó những rêu phong dấu cũ. Dọc phố Thụy Khuê, những chiếc cổng làng cổ còn sót lại giữa phố vẫn đang kể chuyện trăm năm. Những chiếc cổng cổ như ưu tư hơn, trong cái se se chuyển mùa này.

Nhiều cổng cổ nhất lại chính là làng Yên Thái, nổi tiếng với câu ca “Mịt mù khói tỏa ngàn sương/ Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ”. Nghe đâu, quận Tây Hồ đang có dự án khôi phục giấy dó Yên Thái để làm du lịch. Liệu mai này, sẽ lại nghe vẳng tiếng chày? Đối diện với Kẻ Bưởi bên kia hồ Tây là những làng hoa. Làng hoa xưa mười phần thì nay chỉ còn một. Nhưng giờ lại có một chợ hoa, “trung tâm giao dịch hoa” của Hà Nội. Chợ họp từ đêm đến sáng. Người ta vẫn kháo nhau, đời không đi chợ hoa Quảng Bá một lần, chưa được xem là yêu Hà Nội.



Trong những chiều suy tư ngang dọc, nhiều lần tôi tự hỏi vì sao, khi nói về vẻ đẹp Hà Nội, người ta vẫn cứ phải đi tìm những điều xưa cũ? Những điều tự hào nhất về Hà Nội vẫn cứ khoanh vùng trong những gì thuộc về quá khứ để lại? Tại sao Hà Nội hôm nay chỉ đẹp, chỉ đáng yêu tong những khoảnh khắc nhất định, vào những sớm mai, những đêm khuya, hay những ngày nghỉ, khi mà phố phường vắng vẻ? Hà Nội giờ có hàng chục khu đô thị mới.

Cao ốc có cả nghìn. Đại diện cho Hà Nội “mới” – những tòa cao ốc vươn mình lên trong khu phố cũ, len lỏi cả vào trong những ngóc ngách. Rồi đây, lại có những tòa nhà 50-70 tầng mọc lên giữa phố đông. Không ai chê chúng không hiện đại, không đẹp. Song, rất hiếm người dẫn bạn bè mình đến những cao ốc mà hãnh diện với bạn bè rằng: Đây là Hà Nội của tôi. Phải chăng, khi quy hoạch, khi xây dựng, người ta chưa chú tâm đến cái mạch văn hóa, kiến trúc. Để rồi, Hà Nội “mới” chưa bắt được đúng cái mạch chảy của ngày xưa?



Tôi bắt đầu thôi giận người bạn phương xa khi nói những điều chưa hay về Hà Nội. Vẫn những con phố ấy, những hàng cây ấy. Nhưng giờ, mỗi khi cảm xúc về Hà Nội dâng lên, tôi lại phải lặn lội đi tìm những dấu yêu…
Có thể nói ẩm thực là chiếc gương phản ánh chân thực nhất nền văn hóa của mỗi quốc gia. Nếu như người Nhật có thể tự hào với sushi, người Mexico có thể tự hào với bánh taco,... thì nhắc tới Việt Nam, hẳn sẽ là một thiếu sót rất lớn nếu như không nhắc tới phở.

Chẳng ai rõ phở bắt nguồn từ đâu, khi nào, ai là người tạo ra nó, mà chỉ biết phở đã xuất hiện từ lâu. Từ cái thời ông bà ta sinh ra, phở đã tồn tại. Phở khi ấy chỉ được bán trên những gánh hàng rong. Tiếng rao của các hàng quà rong nghe rất du dương có vần, có điệu, đôi khi còn luyến uu như hát biến âm đủ thanh sắc rót vào tai người nghe. Về sau này, có lẽ người ta đã nhận ra cái giá trị tinh tế của phở nên đã đưa nó vào các hàng quán, ban đầu chỉ là những cửa hàng nhỏ, sau là cả một chuỗi cửa hàng hiện đại. Và cứ thế, giá trị của phở được nâng lên, xứng tầm với cái giá trị của nó, rồi phở trở thành một “thương hiệu” mang bản sắc dân tộc từ khi nào không hay.

 
Phở, không đơn thuần là thức ăn, mà là món quà căn bản. Người Việt Nam có thể không ăn bánh bao, có thể không ăn vằn thắn, những chắc chắn ai cũng đã từng ăn phở. Từ cô bán hàng rong đến một quan chức cấp cao, từ một bé gái đang học lớp vỡ lòng đến một cụ già tóc bạc phơ,... ai cũng từng ăn một bát phở.

Phở Hà Nội, không đơn thuần là thức ăn, mà là thức nghiện. Người ta ăn phở, không vì một mục đích gì, mà như một thói quen, như một thú vui. Vì thế mà phở xuất hiện ở khắp nơi. Ở bất kỳ thành phố, khu dân cư nào, người ta có thể bắt gặp hình ảnh một quán phở bình dị. Ngay từ xa, hương phở cuốn lấy con người ta, tỏa ra một sức quyến rũ không thể chối từ. Phở có thể thưởng thức vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày, nhưng phở quyến rũ nhất, có lẽ là vào buổi sáng. Một bát phở cho bữa sáng đã từ lâu trở thành thói quen của nhiều người Việt Nam. Khoa học ngày càng phát triển, người ta cho rằng ăn sáng với 1 bát phở không tốt cho sức khỏe. Nhưng, đã là thói quen thì đâu có thể bỏ trong ngày một, ngày hai được. Có chăng thì người ta cũng hạn chế ăn phở vào một số ngày trong tuần. Chứ nếu người Việt Nam bỏ ăn phở vào buổi sáng thật, thì tôi sẽ nhớ lắm những câu nói quen thuộc: "Bác ăn sáng chưa? Vào làm một bát phở với tôi!”, “Sáng ra làm một bát phở cho chắc bụng bác ạ.”,...

Phở, không đơn thuần là thức ăn, mà là một sợi dây vô hình gắn kết người với người. Ở những quán phở phục vụ ban đêm, không khó để bắt gặp những lời thăm hỏi chân thành. Những người công nhân, những bác tài lái xe đường dài, họ tìm đến quán phở để được thưởng thức một bát phở thơm ngon, để được lấp đầy cái bụng đói rồi tiếp tục, trở lại công việc. Nhưng tại những quán phở ấy, họ lại nhận được cả một tấm lòng từ chính những người xa lạ, để rồi, rời khỏi quán phở ấy, họ không chỉ nhận lại cái bụng căng đầy, mà còn cả tấm chân tình, năng lượng để tiếp tục chuyến hành trình dài. Ấy vậy mới nói, người ta tìm đến phở, cốt là ở tấm lòng.

Thật không ngoa khi nói phở chính là sự kết hợp hoàn mĩ nhất tất cả những tinh hoa của đất Việt thiêng liêng. Không chỉ đơn thuần là một món ăn, phở chính là kết tinh cao nhất của ẩm thực Việt, văn hóa Việt và con người Việt. Ngoài phở ra, thật không biết còn món ăn nào như thế...


Hà Nội xưa nổi tiếng với một văn hóa chợ, đến mức nơi đây đã từng được gọi với cái tên không chính thức là “Kẻ Chợ” từ khoảng thế kỷ XV. Khi ấy, kinh thành Thăng Long được mở rộng về phía đông và khu vực này trở thành nơi hội tụ các ngành nghề, là nơi họp chợ, là thị trường lớn nhất Việt Nam ngày ấy. Kẻ Chợ chỉ nơi buôn bán ngoài kinh thành, nhưng dân gian gộp cả nơi vua ở lẫn khu buôn bán gọi chung bằng cái tên này. “Kẻ Chợ” còn xuất hiện phổ biến trong các tư liệu phương Tây với những biến âm: Cacho, Catchou, Checio, Kacho, Kichou…

Chợ ở Thăng Long thực ra xuất hiện từ trước đó rất lâu, với mật độ chợ dày đặc nhất tại nơi mà ngày nay chúng ta gọi là phố cổ. Địa điểm họp chợ thường ở nơi có bãi đất rộng, cửa thành, cửa sông và hai bên sông Tô Lịch - những vị trí thuận tiện cho đi lại. Sách ‘Đại Nam nhất thống chí’ viết rằng nếu chỉ tính trên đất là Hà Nội bấy giờ, có 12 chợ, trong đó có Chợ Mới - chính là chợ Đồng Xuân hiện tại. Có thể nói, cả Hà Nội thời ấy cũng là một cái chợ lớn với năm bảy chục phố “Hàng”, cũng như một số lượng lớn các chợ lưu động không tên với những người buôn bán hàng rong tại các ngã ba, ngã tư, hay những khu đất trống.



Thậm chí, chợ xưa ngoài mua bán bình thường còn có cả những loại hình giải trí như hát xẩm, nặn tò he,... Chợ Hàng Da cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX còn có các gánh xiếc thú của người Hà Lan biểu diễn. Một phiên chợ cứ như ngày hội. Chợ xưa cũng là nơi hội tụ chuyện của thiên hạ, hay nói theo ngôn ngữ bao cấp là “thông tấn xã vỉa hè”. Trong lúc ế hàng, lúc mặc cả, mọi người tán gẫu việc này việc nọ, một lần họp chợ là thêm bao điều truyền tai nhau.

Hà Nội phát triển, chợ nơi đây cũng vậy. Trải qua hàng trăm năm, chữ "Kẻ chợ" giờ đây gần như không còn ai dùng nữa. Hà Nội ngày nay không chỉ là nơi buôn bán đơn thuần mà đã trở thành trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của cả nước. Những siêu thị và trung tâm thương mại mọc lên ngày càng nhiều, số lượng chợ truyền thống giảm đi. Thế nhưng, văn hóa chợ vẫn chưa hoàn toàn biến mất khỏi nơi đây. Các bà các mẹ vẫn ngày ngày đảm đang lo cho gia đình tươm tất với những món đồ mua từ chợ. Họ dặn con, đi chợ là phải đi từ sớm.

Tôi lại nghĩ, đi sớm không chỉ để chọn được những thứ thực phẩm tươi ngon nhất, mà còn để thấy chợ Hà Nội thở.
Khi ấy, không gian bận rộn cùng vô vàn các loại hàng hoá ngập cả năm giác quan, sống động với những âm thanh tưởng tạp nham mà lại thân thuộc đến nao lòng. Tiếng đuôi cá quẫy trong chậu, tiếng chiếc quạt nhỏ vù vù đuổi ruồi trên phản thịt, vài câu mặc cả hay giọng chào mời ngọt xớt “mua mở hàng hộ em bác ơi”, tất cả quyện vào nhau thuần một chữ “chợ”.
Trong những rục rịch mua bán, có khi còn thấy cả tiếng mồ hôi rơi…